Không. Nếu sinh viên mới ra trường làm việc theo hợp đồng lao động, làm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức hoặc công việc đã thỏa thuận, thì mức lương theo công việc hoặc chức danh không nên thấp hơn lương tối thiểu vùng. Nhiều doanh nghiệp vẫn cho rằng lao động mới tốt nghiệp hoặc chưa có kinh nghiệm có thể trả thấp hơn, nhưng quy định hiện hành không có ngoại lệ cho trường hợp này.
Trong thời gian thử việc, tiền lương do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất bằng 85% mức lương của công việc đó. Vì vậy, lương thử việc có thể thấp hơn lương tối thiểu vùng nếu mức lương chính thức của công việc đó đang bằng mức tối thiểu vùng và mức thử việc vẫn đạt từ 85% trở lên.
I. Kết luận cần nắm ngay
Với câu hỏi trả lương cho sinh viên mới ra trường thấp hơn lương tối thiểu vùng được không, câu trả lời là không áp dụng với người đang làm việc chính thức theo hợp đồng lao động.
- Không có ngoại lệ riêng cho người mới ra trường hoặc chưa có kinh nghiệm.
- Nếu trả lương theo tuần, ngày, sản phẩm hoặc khoán thì khi quy đổi theo tháng hoặc theo giờ, mức lương cũng không nên thấp hơn mức tối thiểu tương ứng.
- Riêng thử việc là trường hợp cần tách riêng để tránh hiểu sai.
Ví dụ thực tế
Một số doanh nghiệp ghi mức lương chính thức thấp vì cho rằng lao động mới ra trường cần thời gian học việc. Nếu người lao động đã ký hợp đồng lao động và làm việc bình thường, cách làm này có thể dẫn đến rủi ro xử phạt khi kiểm tra hồ sơ lương.
II. Mức lương tối thiểu vùng đang áp dụng
Mức lương tối thiểu vùng được áp dụng theo nơi hoạt động của người sử dụng lao động. Nhiều doanh nghiệp nhầm lẫn khi lấy theo nơi cư trú của người lao động, nhưng quy định căn cứ vào nơi doanh nghiệp hoạt động.
| Vùng | Mức tháng | Mức giờ |
|---|---|---|
| Vùng I | 5.310.000 đồng/tháng | 25.500 đồng/giờ |
| Vùng II | 4.730.000 đồng/tháng | 22.700 đồng/giờ |
| Vùng III | 4.140.000 đồng/tháng | 20.000 đồng/giờ |
| Vùng IV | 3.700.000 đồng/tháng | 17.800 đồng/giờ |
Mức trên áp dụng theo quy định mới nhất có hiệu lực từ 01/01/2026.
Lưu ý quan trọng
Khi trả lương theo tuần, ngày, sản phẩm hoặc khoán, cần quy đổi sang tháng hoặc giờ để đối chiếu với mức tối thiểu vùng. Chỉ nhìn con số trên bảng lương có thể không phản ánh đúng nghĩa vụ pháp lý.
III. Các trường hợp dễ nhầm khi áp dụng
1. Trả lương theo tuần, ngày, sản phẩm hoặc khoán
Nếu người lao động nhận lương theo tuần, ngày, sản phẩm hoặc khoán thì mức lương đó khi quy đổi theo tháng hoặc theo giờ không nên thấp hơn mức lương tối thiểu tháng hoặc tối thiểu giờ tương ứng. Nhiều doanh nghiệp chỉ thỏa thuận đơn giá mà không kiểm tra mức quy đổi cuối cùng, dễ dẫn đến vi phạm.
2. Thời gian thử việc
Tiền lương thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất bằng 85% mức lương của công việc đó. Một sai sót thường gặp là doanh nghiệp lấy 85% của mức lương tự xây dựng quá thấp, trong khi mức lương chính thức đã không được thấp hơn lương tối thiểu vùng.
3. Lao động đã qua đào tạo
Quy định hiện hành không còn yêu cầu chung rằng người đã qua học tập, đào tạo nghề sẽ được trả cao hơn ít nhất 7% so với lương tối thiểu đối với hợp đồng mới. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp đang có thỏa thuận hiện có với chế độ có lợi hơn, gồm cả mức cao hơn ít nhất 7%, thì không nên tự ý cắt giảm nếu chưa có thỏa thuận khác. Khi thanh tra, hồ sơ thỏa ước, quy chế lương và các cam kết nội bộ thường được kiểm tra trước tiên.
IV. Rủi ro khi trả thấp hơn lương tối thiểu vùng
Nếu người sử dụng lao động trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định, mức phạt tiền được chia theo số lượng người lao động bị vi phạm như sau:
| Số người lao động bị vi phạm | Mức phạt |
|---|---|
| Từ 01 đến 10 người | 20 – 30 triệu đồng |
| Từ 11 đến 50 người | 30 – 50 triệu đồng |
| Từ 51 người trở lên | 50 – 75 triệu đồng |
Ngoài tiền phạt, doanh nghiệp còn phải trả đủ phần tiền lương còn thiếu kèm khoản tiền lãi của số tiền trả thiếu hoặc trả chậm. Cần rà soát kỹ bảng lương, hợp đồng lao động và cách quy đổi lương khoán trước khi áp dụng.