Không bắt buộc đóng bảo hiểm xã hội nếu hợp đồng khoán dịch vụ với người nước ngoài thực sự là hợp đồng dân sự thuần túy, tức bên nhận khoán tự chủ cách làm và chỉ bàn giao kết quả công việc. Điểm dễ nhầm là nhiều doanh nghiệp đặt tên là hợp đồng khoán dịch vụ, nhưng cách tổ chức thực tế lại giống quan hệ lao động; khi đó vẫn có thể bị xác định là hợp đồng lao động theo bản chất và thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nếu đáp ứng điều kiện luật định.
I. Bảng tra cứu nhanh
| Trường hợp | Cách xác định | Hướng xử lý BHXH |
|---|---|---|
| Hợp đồng khoán dịch vụ đúng bản chất dân sự | Bên nhận khoán tự do về thời gian, địa điểm, cách thực hiện; không chịu quản lý, điều hành, giám sát như nhân sự nội bộ; chỉ cam kết bàn giao sản phẩm hoặc kết quả | Không thuộc diện đóng BHXH bắt buộc |
| Hợp đồng mang tên khoán dịch vụ nhưng thực tế là quan hệ lao động | Có trả công, làm việc theo lệnh, chịu quản lý, điều hành, giám sát; gắn với tổ chức lao động của doanh nghiệp | Được xem là quan hệ lao động theo bản chất; thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nếu đáp ứng điều kiện luật định |
| Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hợp đồng lao động | Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam | Thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, trừ trường hợp loại trừ theo luật |
Mốc cần nhìn ngay: người nước ngoài chỉ thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc khi làm việc tại Việt Nam theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên, trừ các trường hợp loại trừ.
II. Cách xác định có thuộc diện đóng hay không
1. Trường hợp không thuộc diện đóng BHXH bắt buộc
Nếu hợp đồng khoán dịch vụ mang bản chất dân sự, bên nhận khoán không bị quản lý như người lao động và chỉ có nghĩa vụ giao kết quả công việc, thì không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Doanh nghiệp thường dùng cùng một mẫu hợp đồng cho cả cộng tác viên, chuyên gia và nhân sự vận hành thường xuyên, nên việc xác định lại bản chất là cần thiết.
- Tự do về thời gian làm việc.
- Tự do về địa điểm làm việc.
- Tự quyết cách thức thực hiện công việc.
- Không chịu kỷ luật lao động.
- Không bị quản lý như nhân sự nội bộ.
- Chỉ bàn giao sản phẩm hoặc kết quả theo thỏa thuận.
2. Trường hợp có thể bị xác định là hợp đồng lao động
Nếu hợp đồng tuy ghi là khoán dịch vụ hoặc cộng tác viên nhưng thực tế có các dấu hiệu của quan hệ lao động, thì vẫn bị xác định theo bản chất. Tuy nhiên, nếu hồ sơ ghi một kiểu nhưng vận hành lại theo kiểu nhân sự chính thức, rủi ro truy thu là có.
- Làm việc có trả công.
- Chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.
- Làm việc theo lệnh.
- Gắn với tổ chức lao động của doanh nghiệp.
Khi rơi vào tình huống này, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam sẽ thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nếu đáp ứng điều kiện về loại hợp đồng và thời hạn hợp đồng theo quy định.
Ví dụ thực tế
Một doanh nghiệp ký “hợp đồng khoán dịch vụ” với người nước ngoài nhưng lại quy định giờ làm cố định, báo cáo hằng ngày và chịu phân công trực tiếp từ quản lý. Khi thanh tra, vấn đề đầu tiên được xem xét là bên nhận khoán có thực sự độc lập hay chỉ là tên gọi khác của quan hệ lao động.
III. Điều kiện áp dụng với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam
1. Điều kiện thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc
Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam.
2. Các trường hợp không thuộc diện tham gia
Nhiều hồ sơ chỉ kiểm tra thời hạn hợp đồng và bỏ qua các điều kiện loại trừ.
- Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp.
- Tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu.
- Trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Thời hạn đăng ký: người sử dụng lao động nộp hồ sơ đăng ký tham gia BHXH trong vòng 30 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động hoặc ngày tuyển dụng đối với lao động nước ngoài thuộc diện bắt buộc.
Lưu ý quan trọng
Doanh nghiệp chỉ nhìn tên hợp đồng mà không rà lại cách quản lý công việc, trong khi cơ quan có thẩm quyền đánh giá dựa trên bản chất thực hiện. Nếu hồ sơ thể hiện người nước ngoài làm việc như nhân sự nội bộ, rủi ro bị xác định lại quan hệ lao động là khá rõ.
IV. Rủi ro khi chậm đóng nếu đã thuộc diện bắt buộc
Nếu người nước ngoài đã thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc mà doanh nghiệp chậm đóng, mức xử phạt hành chính được xác định trên số tiền phải đóng tại thời điểm lập biên bản vi phạm.
| Nội dung | Mức áp dụng |
|---|---|
| Phạt tiền do chậm đóng | Từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với cá nhân; tổ chức áp dụng mức gấp đôi |
| Tiền lãi chậm đóng | 0,03%/ngày trên số tiền chậm đóng |
| Biện pháp khắc phục | Truy đóng đầy đủ số tiền BHXH bắt buộc còn thiếu |
Mức phạt có thể thay đổi theo nghị định hướng dẫn mới, cần đối chiếu đúng thời điểm phát sinh vi phạm.