Nếu cá nhân nhận khoán dịch vụ đã tham gia bảo hiểm xã hội ở nơi khác, việc có đóng thêm hay không không phụ thuộc vào tên hợp đồng mà phụ thuộc vào bản chất thực tế của quan hệ. Nếu hợp đồng khoán chỉ là quan hệ dân sự thuần túy thì không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Nếu hợp đồng khoán mang bản chất quan hệ lao động thì vẫn thuộc diện xem xét tham gia; tuy nhiên, khi người đó đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ở nơi khác theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên, thì hợp đồng ký sau thường không đóng thêm bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Nhiều đơn vị dễ nhầm lẫn khi chỉ thấy tên hợp đồng là “khoán” hoặc “dịch vụ” và cho rằng không liên quan đến bảo hiểm xã hội. Thực tế, cơ quan chức năng sẽ xem xét cách làm việc, hình thức trả tiền và mức độ quản lý để xác định bản chất.
I. Bảng tra cứu nhanh
| Trường hợp | Cách xác định | Kết luận về BHXH |
|---|---|---|
| Hợp đồng khoán là quan hệ dân sự thuần túy | Giao việc theo kết quả, tự chủ cách làm, không bị quản lý, điều hành, giám sát thường xuyên | Không thuộc diện đóng BHXH bắt buộc |
| Hợp đồng khoán nhưng thực chất là quan hệ lao động | Có trả công/tiền lương, có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên | Thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc |
| Đã tham gia BHXH bắt buộc ở nơi khác theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên | Hợp đồng ký sau, kể cả mang tên khoán/dịch vụ nhưng bị xem là quan hệ lao động | Không đóng thêm BHXH bắt buộc tại hợp đồng ký sau |
II. Cách xác định đúng bản chất hợp đồng khoán
1. Trường hợp là quan hệ dân sự thuần túy
- Chỉ giao khoán công việc.
- Thanh toán theo sản phẩm hoặc kết quả.
- Bên nhận khoán tự tổ chức thực hiện.
- Không chịu sự quản lý, điều hành, giám sát như người lao động.
Với trường hợp này, hợp đồng không thuộc phạm vi bảo hiểm xã hội bắt buộc. Đây là điểm nhiều doanh nghiệp thường nhầm lẫn: hợp đồng ghi khoán nhưng cách vận hành lại như nhân sự cố định.
2. Trường hợp mang bản chất quan hệ lao động
- Dù tên là hợp đồng khoán hoặc dịch vụ nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương.
- Có sự quản lý, điều hành, giám sát của bên sử dụng.
- Thuộc loại hợp đồng từ đủ 01 tháng trở lên hoặc tên gọi khác nhưng bản chất là lao động.
Khi ký hợp đồng cộng tác, khoán việc dài hạn hoặc giao việc có giờ giấc cố định, dễ bỏ qua bản chất lao động. Khi thanh tra, câu hỏi đầu tiên thường là liệu người nhận khoán có làm việc độc lập thực sự không.
III. Trường hợp đã tham gia ở nơi khác có phải đóng thêm không?
Nếu người đó đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ở nơi khác theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên, thì hợp đồng ký sau không đóng thêm bảo hiểm xã hội bắt buộc, kể cả khi hợp đồng ký sau mang tên hợp đồng khoán nhưng thực chất bị xem là hợp đồng lao động.
- Hợp đồng khoán là dân sự thuần túy: không đóng vì không thuộc đối tượng.
- Hợp đồng khoán mang bản chất lao động: vẫn là đối tượng được xem xét tham gia, nhưng nếu đã đóng ở nơi khác theo hợp đồng đầu tiên thì không đóng thêm ở nơi thứ hai.
Theo quy định, hợp đồng có bản chất lao động từ đủ 01 tháng trở lên thuộc diện bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Ví dụ thực tế
Một cá nhân đã tham gia bảo hiểm xã hội tại công ty A theo hợp đồng lao động đầu tiên. Sau đó người này ký thêm hợp đồng “khoán dịch vụ” với công ty B. Nếu tại công ty B, công việc thực tế có quản lý, giám sát, trả lương định kỳ thì hợp đồng này có bản chất lao động. Tuy vậy, do bảo hiểm xã hội đã tham gia theo hợp đồng đầu tiên tại công ty A, nên công ty B không đặt vấn đề đóng thêm bảo hiểm xã hội bắt buộc cho cùng nội dung đó.
Lưu ý quan trọng
Kết luận không đơn giản là “nhận khoán thì không đóng”. Cần rà soát bản chất hợp đồng và xác định nơi tham gia theo hợp đồng giao kết đầu tiên. Nếu hồ sơ ghi một kiểu nhưng thực tế khác, rất dễ bị truy thu.
IV. Mức xử phạt và điểm cần kiểm tra hồ sơ
| Nội dung | Mức xử phạt |
|---|---|
| Không đóng hoặc đóng không đủ BHXH bắt buộc cho một phần người lao động | Từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng, tối đa không quá 75 triệu đồng |
| Không đóng BHXH bắt buộc cho toàn bộ người lao động thuộc diện | Từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng, tối đa không quá 75 triệu đồng |
Lưu ý quan trọng
- Hợp đồng mang tên dịch vụ/khoán nhưng có giờ giấc cố định, quản lý thường xuyên, trả lương định kỳ là tình huống dễ bị xác định lại thành quan hệ lao động.
- Lỗi phổ biến là chỉ nhìn tên hợp đồng mà không xem xét cách tổ chức công việc thực tế.
- Cần rà soát hồ sơ về cách giao việc, nghiệm thu, chứng từ thanh toán và bằng chứng về tính tự chủ của người nhận khoán.
Để xử lý hồ sơ thực tế, cần kiểm tra ba điểm: ai quản lý công việc, trả tiền theo kết quả hay theo kỳ lương, và người đó đang tham gia bảo hiểm xã hội theo hợp đồng nào trước tiên. Chỉ cần lệch một trong các điểm này là dễ sai kê khai.