Chi nhánh không có tư cách pháp nhân theo quy định pháp luật Việt Nam. Dưới đây là phân tích chi tiết dựa trên các văn bản pháp lý hiện hành:
1. Bản chất pháp lý của chi nhánh
Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, được thành lập để thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp, bao gồm cả chức năng đại diện theo ủy quyền.
- Không đáp ứng đủ 4 điều kiện thành pháp nhân:
- Thành lập hợp pháp: Chi nhánh được đăng ký hoạt động nhưng không có tư cách pháp nhân độc lập.
- Cơ cấu tổ chức: Có người đứng đầu nhưng quyền hạn bị giới hạn bởi ủy quyền của doanh nghiệp.
- Tài sản độc lập: Tài sản của chi nhánh thuộc doanh nghiệp, không tách biệt về mặt pháp lý.
- Tự chịu trách nhiệm: Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm pháp lý về mọi giao dịch của chi nhánh.
2. Trách nhiệm pháp lý và hoạt động
- Doanh nghiệp mẹ chịu trách nhiệm: Mọi nghĩa vụ tài chính, hợp đồng, hoặc tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh đều do doanh nghiệp đứng tên thực hiện.
- Phạm vi hoạt động: Chi nhánh có thể thực hiện các chức năng như bán hàng, sản xuất, hoặc dịch vụ, tùy thuộc vào ủy quyền của doanh nghiệp.
Ví dụ minh họa
Công ty A (trụ sở tại Hà Nội) thành lập chi nhánh tại TP.HCM. Khi chi nhánh ký hợp đồng mua nguyên liệu, trách nhiệm thanh toán và bồi thường (nếu có) thuộc về Công ty A, không phải chi nhánh.
Lưu ý quan trọng
- Con dấu: Chi nhánh có thể sử dụng con dấu riêng nhưng không bắt buộc.
- Ký kết hợp đồng: Người đứng đầu chi nhánh chỉ được ký hợp đồng khi có ủy quyền bằng văn bản từ doanh nghiệp.