Tiền lương khoán dịch vụ có tính đóng bảo hiểm xã hội hay không phụ thuộc trước hết vào bản chất quan hệ giữa hai bên. Nếu khoản tiền này thực chất được trả trong quan hệ lao động theo hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên, thì tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc được xác định theo tiền lương tháng, gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể, trả thường xuyên, ổn định theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Ngược lại, nếu chỉ là hợp đồng dịch vụ dân sự/khoán việc không làm phát sinh quan hệ lao động, thì không thuộc diện đóng BHXH bắt buộc theo cơ chế dành cho người lao động.
Vấn đề thường xảy ra khi doanh nghiệp ghi là “khoán dịch vụ” nhưng cách quản lý, trả lương, điều hành công việc lại mang bản chất quan hệ lao động. Điều này có thể dẫn đến truy thu nếu hồ sơ thể hiện người nhận khoán làm việc như lao động thông thường.
I. Bảng tra cứu nhanh
| Trường hợp | Cách xử lý |
|---|---|
| Khoản lương khoán dịch vụ trả theo hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên | Tính đóng BHXH trên tiền lương tháng theo quy định |
| Người lao động hưởng lương theo sản phẩm hoặc lương khoán | Ghi và quy đổi về mức lương tính theo thời gian để xác định đơn giá sản phẩm hoặc lương khoán |
| Khoản trả theo hợp đồng dịch vụ dân sự/khoán việc, không phát sinh quan hệ lao động | Không thuộc diện đóng BHXH bắt buộc theo cơ chế áp dụng cho người lao động |
Mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
II. Các khoản tính và không tính đóng BHXH
1. Khoản được tính
- Mức lương theo công việc hoặc chức danh
- Phụ cấp lương
- Các khoản bổ sung khác xác định được mức tiền cụ thể và trả thường xuyên, ổn định
2. Khoản không tính
- Tiền thưởng
- Các khoản phụ thuộc kết quả sản xuất, năng suất, chất lượng công việc không ổn định
- Các khoản hỗ trợ, phúc lợi ghi riêng như xăng xe, điện thoại, hỗ trợ khác nếu không mang tính tiền lương ổn định
Lưu ý quan trọng
Doanh nghiệp cần phân biệt rõ: các khoản hỗ trợ, thưởng không nên cộng vào lương đóng BHXH; ngược lại, không được tách tiền lương ổn định thành “hỗ trợ” để giảm mức đóng. Khi thanh tra, cơ quan chức năng sẽ xem xét các khoản chi này có mức tiền cụ thể, trả thường xuyên và ổn định hay không.
III. Mức đóng, thời hạn đóng và rủi ro chậm đóng
1. Tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc
Sau khi xác định đúng tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH, tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc áp dụng theo luật hiện hành là 25%, gồm:
| Chủ thể đóng | Tỷ lệ | Nội dung |
|---|---|---|
| Người lao động | 8% | Quỹ hưu trí và tử tuất |
| Người sử dụng lao động | 17% | 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất; 3% vào quỹ ốm đau, thai sản |
| Tổng cộng | 25% |
2. Thời hạn đóng
Đối với đơn vị trả lương theo sản phẩm, theo khoán trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, có thể đóng theo phương thức 03 tháng hoặc 06 tháng một lần. Thời hạn đóng chậm nhất là ngày cuối cùng của phương thức đóng, hoặc theo quy định mới là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng.
3. Mức xử phạt khi chậm đóng
Phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, BHTN tại thời điểm lập biên bản, tối đa không quá 75 triệu đồng; đồng thời nộp đủ tiền chậm đóng và lãi 0,03%/ngày trên số tiền chậm đóng.
Ví dụ thực tế
Một doanh nghiệp ký “hợp đồng khoán dịch vụ” nhưng người nhận khoán làm việc cố định, chịu điều hành trực tiếp, nhận tiền đều hằng tháng và có khoản phụ cấp ổn định. Nếu hồ sơ thể hiện bản chất là quan hệ lao động, cơ quan có thẩm quyền thường xem xét tiền trả này theo hướng là tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, không chỉ nhìn vào tên hợp đồng.
IV. Điểm cần kiểm tra khi rà soát hồ sơ
- Kiểm tra loại hợp đồng: hợp đồng lao động hay hợp đồng dịch vụ dân sự
- Kiểm tra thời hạn hợp đồng có từ đủ 01 tháng trở lên hay không
- Kiểm tra khoản chi nào là lương ổn định, khoản nào là hỗ trợ/phúc lợi ghi riêng
- Kiểm tra trường hợp hưởng lương sản phẩm hoặc lương khoán đã quy đổi về mức lương tính theo thời gian hay chưa
- Kiểm tra mức đóng có nằm trong ngưỡng từ mức tham chiếu đến 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng hay không
Để rà soát hồ sơ nội bộ, hãy nhìn vào bản chất trả lương và cách tổ chức công việc trước, sau đó mới đối chiếu tên gọi hợp đồng. Sai sót thường bắt nguồn từ việc kê khai chưa đúng ngay từ đầu vì nhầm lẫn giữa hình thức và nội dung.