Skip links

Nhân viên tự ý nghỉ ngang, công ty có phải trả trợ cấp thôi việc không?

Thông thường, công ty không phải trả trợ cấp thôi việc nếu người lao động tự ý nghỉ ngang thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hoặc tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên. Cần phân biệt rõ giữa nghỉ việc không báo trước và nghỉ việc trái pháp luật – mỗi trường hợp có cách xử lý riêng.

Lưu ý: tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lênkhông có lý do chính đáng là căn cứ quan trọng để xác định có phát sinh trợ cấp thôi việc hay không.

I. Bảng tra cứu nhanh

Trường hợp Trợ cấp thôi việc Điểm cần kiểm tra
Người lao động tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên Không thuộc diện được trả Cần xác định rõ số ngày nghỉ và lý do nghỉ
Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật Không thuộc diện được trả Nhiều doanh nghiệp chỉ căn cứ vào việc không báo trước mà chưa kiểm tra đủ các điều kiện luật định
Người lao động chấm dứt hợp đồng đúng luật và đáp ứng đủ điều kiện Có thể được xem xét Phải kiểm tra thời gian làm việc và trường hợp chấm dứt hợp đồng

II. Khi nào không phát sinh trợ cấp thôi việc?

1. Tự ý bỏ việc 05 ngày làm việc liên tục trở lên

Nếu người lao động tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Trường hợp này thuộc ngoại lệ không tính trợ cấp thôi việc.

  • Công ty chỉ nên kết luận không trả trợ cấp khi chứng minh được người lao động nghỉ việc không có lý do chính đáng.
  • Nếu hồ sơ nội bộ không có biên bản, thông báo, chấm công hoặc tài liệu thể hiện số ngày nghỉ liên tục, rủi ro tranh chấp sẽ cao hơn.

2. Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật

Nếu người lao động nghỉ ngang theo dạng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, ngoài việc không được trợ cấp thôi việc, còn có thể phát sinh nghĩa vụ bồi thường.

  • Bồi thường cho người sử dụng lao động ít nhất 1/2 tháng tiền lương.
  • Nếu vi phạm thời hạn báo trước thì bồi thường thêm khoản tiền tương ứng với tiền lương của những ngày không báo trước.
  • Hoàn trả chi phí đào tạo nếu có thỏa thuận đào tạo.

Chi tiết: người lao động nghỉ trái pháp luật có thể phải bồi thường 1/2 tháng tiền lương cộng tiền lương của những ngày không báo trước và chi phí đào tạo nếu có.

III. Khi nào vẫn cần xem xét trợ cấp thôi việc?

Không phải mọi trường hợp nghỉ việc không báo trước đều được hiểu ngay là trái pháp luật. Nếu người lao động có căn cứ chấm dứt hợp đồng đúng luật hoặc có lý do chính đáng, cần đánh giá riêng, không nên gộp chung với trường hợp tự ý nghỉ ngang sai quy định.

  • Người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên.
  • Việc chấm dứt hợp đồng thuộc trường hợp được xem xét trợ cấp thôi việc.
  • Không thuộc trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định về bảo hiểm xã hội.
  • Không rơi vào trường hợp tự ý bỏ việc theo điểm e khoản 1 Điều 36.

Các lý do chính đáng cần phân biệt có thể gồm: thiên tai, hỏa hoạn, bản thân hoặc thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác theo quy định hoặc nội quy lao động.

Ví dụ thực tế về cách tính khoản bồi thường

Một nhân viên có hợp đồng không xác định thời hạn, mức lương 15 triệu đồng/tháng, nghỉ ngang không báo trước:

  • Bồi thường nửa tháng lương: 7,5 triệu đồng
  • Bồi thường số ngày không báo trước: (15 triệu / 26 ngày) x 45 ngày = 25,96 triệu đồng
  • Tổng tiền bồi thường: 33,46 triệu đồng
Công thức Kết quả
Nửa tháng lương + (Lương tháng / Số ngày làm việc chuẩn) x Số ngày không báo trước 7,5 triệu + 25,96 triệu = 33,46 triệu đồng

IV. Điểm dễ nhầm khi áp dụng

  • Nhầm giữa nghỉ không báo trước và nghỉ trái pháp luật: không phải cứ nghỉ ngang là xử lý giống nhau.
  • Không có chứng cứ nghỉ việc: khi rà soát hồ sơ, nội dung này cần được kiểm tra kỹ.
  • Nhầm trợ cấp thôi việc với trợ cấp mất việc làm: hai khoản này không giống nhau.
  • Áp dụng sai thời hạn báo trước theo loại hợp đồng: sai sót này dẫn đến kết luận sai về nghĩa vụ chi trả.

Lưu ý quan trọng

Mấu chốt không nằm ở cụm từ “nghỉ ngang”, mà nằm ở việc nghỉ ngang đó có trái pháp luật hay không, có lý do chính đáng hay không, và công ty có chứng minh được vi phạm hay không. Nếu thiếu hồ sơ, việc không chi trả trợ cấp thôi việc có thể dẫn đến rủi ro tranh chấp.

  • Khoản 1 Điều 46 – Luật số 45/2019/QH14 của Quốc hội: Bộ luật Lao động
  • Điểm e khoản 1 Điều 36 – Luật số 45/2019/QH14 của Quốc hội: Bộ luật Lao động
  • Khoản 1 Điều 40 – Luật số 45/2019/QH14 của Quốc hội: Bộ luật Lao động
  • Khoản 4 Điều 125 – Luật số 45/2019/QH14 của Quốc hội: Bộ luật Lao động
  • Điều 35 – Luật số 45/2019/QH14 của Quốc hội: Bộ luật Lao động
  • Hiệu lực văn bản: Các quy định pháp luật và trích dẫn trong bài viết có hiệu lực tại thời điểm biên tập (Ngày cập nhật). Hệ thống luật pháp (Kế toán, Thuế, Luật doanh nghiệp…) thường xuyên thay đổi và cập nhật mới.
  • Khuyến cáo: Nội dung chỉ mang tính chất tham khảo chung. Doanh nghiệp vui lòng không tự ý áp dụng khi chưa đối chiếu với quy định hiện hành hoặc chưa có sự tư vấn chuyên sâu từ chuyên gia.
  • Hỗ trợ: Thuận Thiên không chịu trách nhiệm cho các thiệt hại phát sinh từ việc tự ý áp dụng kiến thức trên website. Để có giải pháp an toàn và chính xác nhất cho doanh nghiệp của bạn, vui lòng liên hệ cơ quan chức năng, ban ngành có liên quan đến vấn đề của bạn để được tư vấn chuyên sâu và có giải pháp cụ thể.

Xem chi tiết: Chính sách nội dung & Miễn trừ trách nhiệm đầy đủ tại đây.

Các bài viết chuyên sâu cùng chủ đề

No data was found
Form gửi câu hỏi

Thuận Thiên sẽ tổng hợp và gửi chi tiết câu trả lời qua email cho bạn từ 7 - 10 ngày

Tư vấn miễn phí
Vui lòng điền thông tin vào form, Thuận Thiên sẽ liên hệ lại với bạn trong thời gian sớm nhất.

* Thông tin khách hàng cung cấp được Thuận Thiên bảo mật và không chia sẽ với bất cứ tổ chức nào khác