Có tính thuế TNCN, nhưng không phải cứ trả sau khi nghỉ việc là áp cùng một cách khấu trừ. Điểm mấu chốt là bản chất từng khoản chi: nếu là tiền lương, tiền công, tiền thưởng còn liên quan đến thời gian người lao động làm việc theo hợp đồng từ 03 tháng trở lên thì vẫn tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần; nếu là khoản thù lao, tiền chi khác thuộc diện khấu trừ theo tỷ lệ thì khi chi từ 2.000.000 đồng/lần trở lên, công ty khấu trừ 10% trước khi trả. Nhiều doanh nghiệp thường gộp toàn bộ khoản chi sau nghỉ việc thành một nhóm, dẫn đến khấu trừ sai.
I. Bảng tra cứu nhanh
| Loại khoản chi | Cách tính thuế TNCN | Điểm cần chú ý |
|---|---|---|
| Tiền lương, tiền công, tiền thưởng phát sinh từ thời gian còn làm việc theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên | Khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần | Trả sau nghỉ việc không làm khoản này đổi bản chất |
| Tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác trả sau khi đã chấm dứt hợp đồng và thuộc diện khấu trừ theo tỷ lệ | Nếu từ 2.000.000 đồng/lần trở lên thì khấu trừ 10% trên thu nhập chịu thuế trước khi trả | Phần này hay bị bỏ sót khi doanh nghiệp nghĩ người lao động đã nghỉ thì không cần khấu trừ |
| Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm đúng mức theo quy định | Không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN | Cần tách đúng phần đúng định mức và phần vượt mức |
| Phần trợ cấp, hỗ trợ vượt mức quy định hoặc khoản hỗ trợ khác không thuộc diện miễn thuế | Tính vào thu nhập chịu thuế | Dễ bị truy thu nếu hồ sơ chi trả ghi chung, không tách khoản |
Thời điểm xác định thu nhập là thời điểm công ty thực tế chi trả, không phụ thuộc người lao động còn làm việc hay đã nghỉ việc.
II. Cách xác định đúng theo từng trường hợp
1. Khoản nào khấu trừ theo biểu lũy tiến
Nếu khoản công ty trả là tiền lương, tiền công, tiền thưởng hoặc khoản có tính chất tiền lương phát sinh trong thời gian người lao động còn làm việc theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên, thì khi thanh toán sau đó vẫn kê khai và khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần.
Nhiều đơn vị thấy nhân viên đã nghỉ nên chuyển sang khấu trừ 10% cho nhanh. Cơ quan thuế thường soi kỹ phần diễn giải trên bảng lương, quyết định thưởng, phụ lục hợp đồng và thời gian phát sinh thu nhập để xác định lại bản chất khoản chi.
2. Khoản nào khấu trừ 10%
Nếu là tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác trả sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động và thuộc diện khấu trừ theo tỷ lệ, thì khi tổng mức chi trả từ 2.000.000 đồng/lần trở lên, công ty khấu trừ 10% trên thu nhập chịu thuế trước khi chi trả.
Lỗi đơn giản nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn vi phạm vì chỉ nhìn vào việc người lao động đã nghỉ, mà không kiểm tra khoản tiền đó là lương còn nợ hay là khoản chi khác.
3. Khoản nào không tính thuế
Với trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm chi đúng mức theo quy định của Bộ luật Lao động và pháp luật bảo hiểm xã hội, khoản này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Ngược lại, nếu có phần vượt mức quy định hoặc là khoản hỗ trợ khác không thuộc diện miễn thuế, thì phần đó vẫn tính vào thu nhập chịu thuế. Khi thanh tra, câu hỏi đầu tiên thường là quyết định chi trả có tách rõ phần miễn thuế và phần chịu thuế hay không.
Ví dụ thực tế. Nhân viên đã nghỉ việc nhưng công ty trả khoản thưởng còn treo của giai đoạn làm việc trước khi nghỉ: khoản này vẫn xử lý theo tính chất tiền lương, tiền thưởng của thời gian làm việc trước đó, không vì trả muộn mà tự chuyển sang khoản miễn thuế.
III. Cam kết chưa khấu trừ 10% và quyết toán sau khi nghỉ việc
1. Khi nào được làm cam kết 08/CK-TNCN
Nếu cá nhân chỉ có duy nhất khoản thu nhập thuộc diện khấu trừ theo tỷ lệ 10% và ước tính tổng thu nhập chịu thuế sau giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế, thì cá nhân có thể lập mẫu 08/CK-TNCN để công ty tạm thời chưa khấu trừ.
Công ty vẫn cần lưu hồ sơ cam kết đầy đủ, vì đây là căn cứ giải trình khi kê khai thuế.
2. Quyết toán thuế sau khi người lao động đã nghỉ
Công ty kê khai phần thu nhập đã chi trả và số thuế đã khấu trừ vào hồ sơ khai, quyết toán thuế của đơn vị. Nếu người lao động đã nghỉ việc và không còn làm việc tại công ty vào thời điểm quyết toán, thì cá nhân đó không ủy quyền cho công ty cũ quyết toán thay.
Nếu cá nhân có nhiều nguồn thu nhập, có số thuế nộp thừa hoặc muốn hoàn thuế, cá nhân sẽ tự quyết toán với cơ quan thuế và sử dụng chứng từ khấu trừ do công ty cấp. Nhiều hồ sơ bị chậm hoàn thuế do thiếu chứng từ khấu trừ.
IV. Kê khai, thời hạn và rủi ro thường gặp
Khi chi trả thu nhập sau nghỉ việc, tổ chức trả thu nhập thực hiện khấu trừ và kê khai theo quý hoặc năm. Thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN của tổ chức trả thu nhập chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 3 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch, thường là 31/03 năm sau.
Mốc dễ nhớ: chi trả đúng bản chất khoản thu nhập, khấu trừ đúng cách và theo dõi hạn quyết toán chậm nhất vào 31/03.
Mức xử phạt chậm nộp tờ khai thuế có thể gồm:
| Hành vi | Mức xử lý |
|---|---|
| Chậm 1-5 ngày, có tình tiết giảm nhẹ | Cảnh cáo |
| Chậm 1-30 ngày | Phạt từ 2-5 triệu đồng |
| Chậm 31-60 ngày | Phạt từ 5-8 triệu đồng |
| Chậm 61-90 ngày | Phạt từ 8-15 triệu đồng |
| Trên 90 ngày | Mức phạt cao hơn theo mức độ vi phạm |
| Khai sai, khấu trừ sai dẫn đến thiếu thuế | Có thể bị phạt 20% số thuế thiếu |
Lưu ý quan trọng
- Không gộp chung tất cả khoản chi sau nghỉ việc thành một loại.
- Cần tách rõ lương, thưởng còn nợ; thù lao, chi khác; trợ cấp thôi việc, mất việc; và phần hỗ trợ vượt mức.
- Hồ sơ nên kiểm tra lại: quyết định nghỉ việc, bảng lương, quyết định thưởng, chứng từ khấu trừ, cam kết 08/CK-TNCN nếu có.