Có, nhưng không giống nhau giữa từng khoản. Hỗ trợ xăng xe trả cố định hằng tháng cho nhu cầu đi lại cá nhân của người lao động thường được tính vào thu nhập chịu thuế TNCN, nhất là khoản đi từ nhà đến nơi làm việc. Ngược lại, khoán chi điện thoại hằng tháng có thể không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN nếu được quy định rõ trong hồ sơ nội bộ và mức khoán phù hợp với mức chi phí được trừ khi tính thuế TNDN; phần vượt mức khoán thì vẫn tính thuế.
I. Bảng tra cứu nhanh
| Khoản chi | Cách xác định thuế TNCN | Điểm dễ nhầm |
|---|---|---|
| Hỗ trợ/phụ cấp xăng xe hằng tháng | Thường tính vào thu nhập chịu thuế TNCN nếu là khoản trả cố định cho đi lại cá nhân | Thường nhầm với công tác phí hoặc chi phí đưa đón tập thể của doanh nghiệp |
| Khoán chi/hỗ trợ điện thoại hằng tháng | Phần trong mức khoán: không chịu thuế TNCN nếu đáp ứng đủ điều kiện về hồ sơ; phần vượt mức tính vào thu nhập chịu thuế TNCN | Rủi ro thường gặp: có chi tiền nhưng không có quy định rõ trong hợp đồng hoặc quy chế |
Sự khác biệt quan trọng là giữa khoản khoán chi phục vụ công việc và khoản phụ cấp mang tính thu nhập thêm cho cá nhân.
II. Khoản hỗ trợ xăng xe hằng tháng
Nếu doanh nghiệp chi một khoản hỗ trợ hoặc phụ cấp xăng xe cố định hằng tháng cho người lao động, khoản này thường được xem là thu nhập chịu thuế TNCN trong trường hợp phục vụ đi lại cá nhân, đặc biệt là quãng đường từ nhà đến nơi làm việc.
Nhiều doanh nghiệp gọi tên khoản chi là “hỗ trợ công việc”, nhưng hồ sơ lại thể hiện chi cố định theo tháng cho từng cá nhân, không gắn với chứng từ hay nhiệm vụ phát sinh. Khi thanh tra, phần này thường bị kiểm tra kỹ lưỡng.
- Tính thuế TNCN nếu là khoản hỗ trợ đi lại cá nhân trả trực tiếp cho người lao động.
- Không nên đồng nhất với công tác phí theo thực tế phục vụ công việc.
- Không nên đồng nhất với chi phí đưa đón tập thể do doanh nghiệp tổ chức.
Ví dụ thực tế
Một nhân viên được nhận khoản xăng xe cố định hằng tháng để tự đi từ nhà đến công ty. Khoản này thường được xử lý theo hướng tính vào thu nhập chịu thuế TNCN, vì bản chất là hỗ trợ đi lại cá nhân, không phải công tác phí thực tế.
III. Khoản hỗ trợ hoặc khoán chi điện thoại hằng tháng
Khoản khoán chi điện thoại hằng tháng được xử lý không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN khi đồng thời đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Có quy định rõ về mức hưởng trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy chế tài chính/quy chế nội bộ của doanh nghiệp.
- Mức khoán chi phù hợp với mức xác định chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
- Chi đúng đối tượng, đúng tính chất là khoản khoán phục vụ công việc.
Nếu chi vượt mức khoán đã được xác lập hợp lệ thì phần vượt mức được tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. Vì nhiều doanh nghiệp chỉ ban hành mức khoán chung, sau đó chi thực tế cao hơn mà không kiểm soát phần vượt.
Ví dụ thực tế
Doanh nghiệp có quy chế nội bộ quy định mức khoán điện thoại cho từng chức danh và chi đúng theo mức đó để phục vụ công việc. Trường hợp này, khoản khoán chi thường được xử lý theo hướng không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. Nếu chi cao hơn mức khoán đã quy định, phần chênh lệch sẽ bị tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Lưu ý quan trọng
- Mức khoán phải được ghi nhận rõ bằng văn bản trong hồ sơ nội bộ.
- Việc phân biệt giữa khoán chi phục vụ công việc và phụ cấp trả thêm cho người lao động cần được xác định rõ ràng.
- Nếu doanh nghiệp đang chi cả xăng xe và điện thoại hằng tháng, nên tách hồ sơ từng khoản để tránh gộp chung và xử lý sai thuế TNCN.
- Thông tin bổ sung về Luật Thuế TNCN mới không làm thay đổi kết luận nêu trên khi chưa có văn bản hướng dẫn thay thế đầy đủ quy định hiện hành.