Hợp đồng kinh tế, thương mại hoặc dân sự có thể bị coi là vô hiệu khi không đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, hoặc rơi vào các trường hợp vô hiệu cụ thể theo quy định hiện hành. Nhiều người lầm tưởng rằng cứ có ký kết là mặc nhiên có giá trị, nhưng hợp đồng vẫn có thể bị tuyên vô hiệu nếu sai ngay từ chủ thể, ý chí, nội dung, hình thức hoặc đối tượng hợp đồng.
I. Bảng tra cứu nhanh các trường hợp hợp đồng vô hiệu
| Nhóm trường hợp | Nội dung cần hiểu đúng |
|---|---|
| Thiếu điều kiện có hiệu lực | Chủ thể không đủ năng lực; không tự nguyện; mục đích hoặc nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội; hình thức không đúng nếu luật xem đó là điều kiện có hiệu lực |
| Vô hiệu do nội dung | Vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội |
| Vô hiệu do giả tạo | Lập hợp đồng để che giấu giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba |
| Vô hiệu do chủ thể | Người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập không đúng điều kiện luật định |
| Vô hiệu do ý chí bị sai lệch | Nhầm lẫn; bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi |
| Vô hiệu do hình thức | Không tuân thủ hình thức bắt buộc trong trường hợp pháp luật quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực |
| Vô hiệu do đối tượng | Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được ngay từ thời điểm giao kết |
| Vô hiệu từng phần | Chỉ phần vi phạm vô hiệu nếu không ảnh hưởng đến phần còn lại |
Một số trường hợp có thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu là 2 năm; riêng các trường hợp như vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, giả tạo thì không bị hạn chế bởi thời hiệu yêu cầu.
II. Các trường hợp cụ thể cần chú ý
1. Thiếu điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Đây là căn cứ gốc để xem hợp đồng có giá trị hay không. Hợp đồng dễ bị vô hiệu nếu thiếu một trong các điều kiện sau:
- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch.
- Các bên tự nguyện khi giao kết.
- Mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
- Hình thức phù hợp nếu pháp luật quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực.
2. Vô hiệu do vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội hoặc giả tạo
Nếu nội dung hoặc mục đích hợp đồng vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội thì hợp đồng vô hiệu. Trường hợp hợp đồng được lập ra chỉ để che giấu một giao dịch khác, hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba, thì đó là hợp đồng giả tạo và cũng bị vô hiệu. Nhiều bên chỉ chú ý đến mẫu hợp đồng mà bỏ qua bản chất giao dịch, dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu.
3. Vô hiệu do chủ thể, nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu nếu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập không đúng điều kiện luật định. Ngoài ra, các trường hợp nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép cũng là căn cứ để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
4. Vô hiệu do không nhận thức được hành vi, sai hình thức hoặc đối tượng không thể thực hiện
Hợp đồng cũng có thể vô hiệu nếu tại thời điểm giao kết, người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; hoặc không tuân thủ hình thức bắt buộc theo luật; hoặc ngay từ lúc giao kết, đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được. Vi phạm hình thức không phải lúc nào cũng dẫn đến vô hiệu ngay. Nếu một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ, Tòa án có thể công nhận hiệu lực theo yêu cầu.
Ví dụ thực tế
Một hợp đồng chuyển nhượng được lập đúng nội dung nhưng thiếu hình thức theo quy định bắt buộc. Nếu các bên đã thực hiện phần lớn nghĩa vụ, khi phát sinh tranh chấp, Tòa án sẽ xem xét để xác định có công nhận hiệu lực hay không.
III. Thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu và hậu quả pháp lý
Khi hợp đồng vô hiệu, hợp đồng không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập. Các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền; bên có lỗi gây thiệt hại thì bồi thường. Ngoài ra, trong một số trường hợp luật định, người thứ ba ngay tình vẫn có thể được bảo vệ.
Lưu ý quan trọng
- Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế trước đây đã hết hiệu lực, nên khi xử lý tranh chấp hiện nay cần đối chiếu theo quy định hiện hành về giao dịch dân sự và hợp đồng vô hiệu.
- Hợp đồng vô hiệu có thể là vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu từng phần. Khi rà soát hồ sơ, không nên mặc định toàn bộ hợp đồng đều mất giá trị.
- Cần kiểm tra cả điều kiện chủ thể, nội dung, ý chí, hình thức và khả năng thực hiện đối tượng hợp đồng ngay tại thời điểm giao kết.