Lương và thưởng Tết đều được tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công. Việc có phát sinh số thuế phải nộp hay không còn phụ thuộc vào thu nhập tính thuế sau khi trừ bảo hiểm bắt buộc, các khoản giảm trừ và khoản được khấu trừ hợp lệ. Nếu sau các khoản này mà thu nhập tính thuế lớn hơn 0 thì phát sinh nghĩa vụ nộp thuế TNCN; nếu nhỏ hơn hoặc bằng 0 thì chưa phải nộp.
I. Bảng tra cứu nhanh
| Nội dung | Cách xác định |
| Lương có tính thuế TNCN không? | Có, thuộc thu nhập từ tiền lương, tiền công. |
| Thưởng Tết Dương lịch, Tết Âm lịch có tính thuế không? | Có, được cộng vào thu nhập của kỳ chi trả để tính thuế. |
| Thưởng Tết có thuộc nhóm được miễn trừ không? | Không nằm trong nhóm khoản thưởng được miễn trừ nêu tại quy định áp dụng. |
| Thời điểm tính thuế | Tính theo thời điểm doanh nghiệp chi trả thu nhập. |
| Khi nào người lao động phát sinh thuế phải nộp? | Khi thu nhập tính thuế sau giảm trừ > 0. |
| Khi nào chưa phải nộp thuế? | Khi thu nhập tính thuế sau giảm trừ <= 0. |
Cần lưu ý: không phải cứ nhận thưởng Tết là đương nhiên có thuế phải nộp. Cơ quan chi trả sẽ cộng khoản thưởng vào thu nhập của kỳ trả lương để khấu trừ tại nguồn, còn số thuế thực tế phụ thuộc vào kết quả sau giảm trừ.
II. Vì sao thưởng Tết phải chịu thuế TNCN?
1. Thưởng Tết được xếp vào thu nhập từ tiền lương, tiền công
Khoản thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức, kể cả thưởng bằng chứng khoán, đều thuộc nhóm thu nhập từ tiền lương, tiền công, trừ đúng các trường hợp thưởng được loại trừ. Vì vậy, thưởng Tết, thưởng hiệu quả công việc, thưởng sản xuất kinh doanh, lương tháng 13 đều được tính vào thu nhập chịu thuế.
2. Thưởng Tết không nằm trong nhóm thưởng được loại trừ
Một số khoản thưởng được loại trừ khỏi thu nhập chịu thuế là các khoản thưởng gắn với danh hiệu thi đua, giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế được Nhà nước Việt Nam thừa nhận; thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh, công trình khoa học được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận; và các khoản khác nếu thuộc đúng nhóm được quy định. Thưởng Tết không được liệt kê trong nhóm này, nên doanh nghiệp hoặc người lao động dễ ước tính sai số thuế nếu chỉ dựa vào tên gọi.
Ví dụ thực tế
Nhiều người vẫn lầm tưởng lương tháng 13 hay thưởng Tết là khoản hỗ trợ cuối năm nên không bị tính thuế. Thực ra, tên gọi không quyết định việc có chịu thuế hay không. Cơ quan thuế nhìn vào bản chất đây là thu nhập từ tiền lương, tiền công.
III. Cách tính và thời điểm khấu trừ
1. Tính vào tháng nào thì khấu trừ tháng đó
Khoản lương và thưởng Tết được cộng vào thu nhập của kỳ chi trả để xác định số thuế phải khấu trừ. Nếu thưởng Tết được chi trả trong tháng nào thì tính vào thu nhập chịu thuế của tháng đó. Doanh nghiệp thực hiện khấu trừ tại nguồn theo kỳ trả thu nhập.
2. Cách xác định có phát sinh thuế hay không
Thu nhập tính thuế đối với cá nhân cư trú được xác định trên cơ sở:
- Tổng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công;
- Trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc;
- Trừ các khoản đóng góp được trừ;
- Trừ giảm trừ gia cảnh.
Nếu thu nhập tính thuế > 0 thì phát sinh nghĩa vụ nộp thuế TNCN. Nếu thu nhập tính thuế <= 0 thì chưa phát sinh số thuế phải nộp.
Từ năm 2026, khi chi thưởng Tết, áp dụng mức giảm trừ gia cảnh mới gồm: 15,5 triệu đồng/tháng đối với người nộp thuế, tương ứng 186 triệu đồng/năm; và 6,2 triệu đồng/tháng đối với mỗi người phụ thuộc. Sau đó áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần 5 bậc theo quy định có hiệu lực từ 01/01/2026.
Lưu ý quan trọng
Một sai lầm phổ biến là chỉ nhìn vào số tiền thưởng mà quên kiểm tra đủ bảo hiểm bắt buộc, giảm trừ bản thân, người phụ thuộc và các khoản được khấu trừ hợp lệ. Nếu hồ sơ người phụ thuộc chưa được rà soát đầy đủ, doanh nghiệp có thể bị truy thu hoặc khấu trừ thiếu. Khi đối chiếu bảng lương, bạn nên tập trung vào thu nhập tính thuế cuối cùng, không phải tên khoản thưởng.
IV. Điều cần nhớ khi quyết toán
Nguyên tắc này áp dụng chung cho cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và không có ngoại lệ riêng chỉ vì khoản tiền được gọi là thưởng Tết. Doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế tại nguồn khi chi trả nếu phát sinh số thuế phải khấu trừ; cá nhân thực hiện quyết toán năm khi thuộc trường hợp cần quyết toán hoặc có nhu cầu hoàn thuế, khấu trừ bổ sung.
- Cần đóng thuế nếu sau các khoản giảm trừ, thu nhập tính thuế còn dương.
- Chưa phát sinh thuế phải nộp nếu sau các khoản giảm trừ, thu nhập tính thuế bằng 0 hoặc âm.
- Thời điểm tính là thời điểm chi trả, không phụ thuộc khoản đó được gọi là lương, thưởng Tết hay lương tháng 13.
Khi kiểm tra khoản thưởng cuối năm, hãy nhớ: thưởng Tết vẫn thuộc thu nhập chịu thuế, nhưng có nộp thuế hay không phải chốt trên số thu nhập tính thuế sau giảm trừ.