Có, nhưng đây không phải khoản chi tự động được trừ. Cơ quan thuế sẽ xem xét chặt chẽ các yếu tố: loại bảo hiểm, hồ sơ nội bộ có ghi rõ quyền lợi, việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc và mức chi có vượt trần. Nếu nhầm lẫn giữa bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe, doanh nghiệp dễ kê khai sai ngay từ đầu.
I. Bảng tra cứu nhanh
| Nội dung | Áp dụng | Cách xử lý chi phí |
|---|---|---|
| Bảo hiểm nhân thọ cho người lao động | Theo quy định hiện hành từ 15/12/2025 | Được tính vào chi phí được trừ nếu đáp ứng đủ điều kiện và không vượt quá 05 triệu đồng/tháng/người; phần vượt không được trừ |
| Bảo hiểm nhân thọ cho người lao động | Thời kỳ trước 15/12/2025 | Mức khống chế cũ là 03 triệu đồng/tháng/người; phần vượt không được trừ |
| Bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm tự nguyện khác | Nhóm chi có tính chất phúc lợi | Không dùng chung mức khống chế của bảo hiểm nhân thọ; áp dụng giới hạn riêng theo tổng chi phúc lợi |
Điểm dễ nhầm nhất: bảo hiểm nhân thọ không gộp chung với bảo hiểm sức khỏe để tính theo giới hạn chi phúc lợi 01 tháng lương bình quân thực tế trong năm.
II. Khi nào được tính vào chi phí được trừ?
Bản chất của khoản này là khoản chi tự nguyện có điều kiện. Nếu thiếu một điều kiện về hồ sơ hoặc chưa thực hiện đầy đủ bảo hiểm bắt buộc, khoản chi có thể bị loại.
- Là khoản chi thực tế liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định chung.
- Điều kiện hưởng và mức hưởng được ghi cụ thể tại một trong các hồ sơ: hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, quy chế tài chính hoặc quy chế thưởng.
- Doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về bảo hiểm bắt buộc cho người lao động.
- Mức chi trong phần được trừ không vượt trần theo từng thời kỳ áp dụng.
Ví dụ thực tế
Một công ty mua bảo hiểm nhân thọ cho quản lý với mức 7 triệu đồng/tháng/người trong giai đoạn áp dụng mức trần 5 triệu đồng. Khi quyết toán, phần 5 triệu đồng có thể được xem xét tính chi phí nếu đủ hồ sơ; phần 2 triệu đồng vượt trần không tính vào chi phí được trừ.
Lưu ý
Thanh tra sẽ yêu cầu chỉ ra quy chế nào quy định quyền lợi này. Nếu doanh nghiệp chi thực tế nhưng không ghi cụ thể điều kiện hưởng và mức hưởng trong hồ sơ lao động hoặc hồ sơ nội bộ, khoản chi phí có thể bị loại.
III. Hồ sơ và những lỗi phổ biến
1. Hồ sơ cần kiểm tra
- Hợp đồng bảo hiểm và chứng từ liên quan.
- Hóa đơn, chứng từ hợp pháp.
- Hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, quy chế tài chính hoặc quy chế thưởng có ghi rõ điều kiện hưởng, mức hưởng.
- Hồ sơ thể hiện doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về bảo hiểm bắt buộc cho người lao động.
2. Các lỗi phổ biến
- Ghi chung chung là “phúc lợi cho nhân viên” nhưng không nêu rõ mức hưởng và điều kiện hưởng.
- Nhầm bảo hiểm nhân thọ sang nhóm bảo hiểm sức khỏe để áp dụng sai giới hạn.
- Còn nợ hoặc chưa thực hiện đầy đủ bảo hiểm bắt buộc nhưng vẫn đưa khoản mua bảo hiểm nhân thọ vào chi phí được trừ.
- Chỉ kiểm tra thuế TNDN mà bỏ sót phần thuế TNCN của người lao động, dẫn đến nguy cơ bị truy thu.
IV. Phân biệt với bảo hiểm sức khỏe và ảnh hưởng thuế TNCN
1. Không gộp với bảo hiểm sức khỏe
Bảo hiểm nhân thọ không áp dụng cơ chế khống chế theo tổng chi phúc lợi 01 tháng lương bình quân thực tế trong năm như bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tai nạn và một số bảo hiểm tự nguyện khác. Vì vậy, không nên gộp các khoản này vào cùng một nhóm để tính giới hạn.
2. Thuế TNCN của người lao động
- Khoản tiền do người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm thuộc thu nhập chịu thuế TNCN.
- Nếu là bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy về phí bảo hiểm thì khoản phí này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
- Nhóm không có tích lũy gồm bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tử kỳ (không bao gồm sản phẩm có hoàn phí).
- Đối với bảo hiểm nhân thọ có tích lũy: nếu doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam thì chưa tính vào thu nhập tại thời điểm mua; khấu trừ 10% tại thời điểm đáo hạn trên khoản phí tích lũy tương ứng phần doanh nghiệp đã mua hoặc đóng góp cho người lao động.
- Nếu doanh nghiệp bảo hiểm không thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam thì người sử dụng lao động khấu trừ 10% trên khoản phí bảo hiểm đã mua hoặc đóng góp cho người lao động tại thời điểm mua bảo hiểm.
Cần tách bạch hai lớp xử lý: chi phí được trừ khi tính thuế TNDN của doanh nghiệp và thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động. Nhiều hồ sơ chỉ thực hiện đúng một vế nhưng bỏ sót vế còn lại.